Bạn có biết tại sao con người phương Tây đang hành trình về
phương Đông để tìm kiếm Thiền không? Và tại sao con người phương Đông đang tràn
về phương Tây để mưu cầu sự giàu có về vật chất không?
Hãy nghe Osho nói về sự khiếm khuyết của con người cũ ở phương
Đông và phương Tây, về sự ra đời của con người mới, nhân loại mới “hữu thể
người toàn bộ”.
Hãy nhìn đời bằng ánh
mắt đùa vui – rồi bạn có thể có cả hai thế giới một lượt. Bạn vừa có cái bánh
cake, lại vừa ăn nó. Và đó là một nghệ thuật thực thụ! Thế giới này và thế giới
kia, âm thanh và sự im lặng, tình yêu và thiền định, có mặt với mọi người, ở
trong tương quan, và ở một mình. Tất cả những điều này phải được sống cùng nhau
trong một loại đồng thời; chỉ lúc đó, bạn mới sẽ biết cái chiều sâu nhất của
bản thể bạn và chiều cao tận cùng của bản thể bạn…
Con người tại phương
Tây đã thành công trong việc đạt tới tất cả cái sự giàu có mà toàn nhân loại đã
từng khao khát qua nhiều nhiều thời đại. Phương Tây đã thành công về mặt vật
chất, đã trở nên giàu có và bây giờ nó đang quá chán chường, quá mệt mỏi. Cuộc
hành trình đã tước mất toàn bộ linh hồn nó. Cuộc hành trình đã "kết
thúc" con người phương Tây. Bề ngoài, mọi thứ đều có thể đạt được, nhưng
sự tiếp xúc với cái bên trong bị đánh mất. Bây giờ mọi thứ mà con người cần đều
có thể đạt được, nhưng chính con người thì không còn ở đó. Những vật sở hữu thì
ở đó, nhưng con người không đang cảm thấy giàu có chút nào; trái lại, con người
đang cảm thấy bị bần cùng hóa, rất nghèo nàn.
Hãy nghĩ về nghịch lý
này: Khi bạn giàu có bên ngoài, thì chỉ lúc đó bạn mới trở nên nhận biết về sự
nghèo nàn bên trong – qua sự tương phản. Khi bạn nghèo bên ngoài, bạn không bao
giờ trở nên nhận biết về sự nghèo nàn bên trong, bởi vì không có sự tương phản
nào. Bạn viết với phấn trắng trên bảng đen, không phải trên tấm bảng trắng. Tại
sao? Bởi vì chỉ trên bảng đen nó mới hiện ra rõ ràng. Sự tương phản được cần
đến.
Khi bạn giàu có bên
ngoài, thì bỗng nhiên một sự nhận biết sâu sắc xảy ra, rằng: "Bên trong
tôi nghèo, tôi là một kẻ ăn xin." Và bây giờ, một trạng thái vô hy vọng
đến như một cái bóng: "Mọi cái mà chúng ta nghĩ về, đều đã được đạt tới –
mọi tưởng tượng và "mơ tưởng" đều được thực hiện – và không có gì xảy
ra từ nó, không có sự hài lòng, không có phúc lạc nào cả."
Phương Tây hoang
mang. Từ sự hoang mang này, một ước vọng lớn khởi lên: làm thế nào để một lần
nữa tiếp xúc với bản ngã của mình.
Thiền định không là
gì khác hơn ngoài việc cắm rễ một lần nữa vào trong đời sống nội tâm, vào trong
tính nội tại của bạn. Do vậy, phương Tây đang trở nên rất quan tâm đến thiền
định và rất quan tâm đến những kho báu của phương Đông.
Phương Đông cũng quan
tâm đến thiền định khi phương Đông giàu có; điều này phải được hiểu. Đó là lý
do tại sao tôi không chống lại của cải và tôi không nghĩ rằng sự nghèo nàn có
một chút tính tâm linh nào trong nó. Tôi hoàn toàn chống lại sự nghèo nàn, bởi
vì bất cứ khi nào một đất nước trở nên nghèo, nó đánh mất tất cả thiền định,
tất cả những nỗ lực tâm linh. Bất cứ khi nào một đất nước trở nên nghèo bên
ngoài, nó không thể nhận biết về sự nghèo nàn bên trong.
Đó là lý do tại sao
trên những khuôn mặt Ấn Độ, bạn có thể thấy một loại mãn nguyện mà không được
tìm thấy tại phương Tây. Nó không phải là sự mãn nguyện thực thụ; nó chỉ là
trạng thái bất thức về sự nghèo nàn nội tâm. Những người Ấn Độ nghĩ, "Hãy
nhìn vào sự lo âu, sự thống khổ, và sự căng thẳng trên những khuôn mặt phương
Tây. Mặc dù chúng ta nghèo, chúng ta rất mãn nguyện bên trong." Đó là sự
ngây ngô, vớ vẩn cực kỳ; thực ra, họ không mãn nguyện. Tôi đã từng quan sát
hằng ngàn người – họ không mãn nguyện. Một điều chắc chắn đúng, là họ không
nhận biết về sự bất mãn, bởi vì để nhận biết sự bất mãn, thì phải cần đến sự
giàu có bên ngoài. Không có sự giàu có bên ngoài, thì không ai trở nên nhận
biết sự bất mãn bên trong của họ – và có thừa những chứng cớ về điều đó.
Tất cả những avatar của những người Hindu đều là vua
hay là con trai của vua. Tất cả những tirtankara
của đạo Jaina, những đạo sư Jaina, đều là vua; Đức Phật cũng vậy. Tất cả ba
truyền thống lớn của Ấn Độ đã cung cấp đầy đủ chứng cứ. Tại sao Đức Phật trở nên
bất mãn, tại sao Ngài bắt đầu một cuộc tìm kiếm thiền định? Bởi vì Ngài giàu
có. Ngài sống trong xa hoa; Ngài sống với tất cả mọi tiện nghi vật chất. Bỗng
nhiên Ngài trở nên nhận biết. Và Ngài còn khá trẻ khi nó xảy ra; Ngài chỉ mới
29 tuổi khi Ngài trở nên nhận biết rằng có một lỗ hổng đen bên trong. Ánh sáng
ở bên ngoài; do vậy, nó cho thấy bóng tối bên trong của bạn. Chỉ một chút bẩn
trên một sơ mi trắng, và nó hiện rõ. Đó là cái đã xảy ra. Ngài trốn thoát khỏi
cung điện.
Đó là cái đã xảy ra
cho Mahavira; Ngài cũng trốn khỏi một cung điện. Nó không đang xảy ra cho một
kẻ hành khất. Cũng có những kẻ hành khất trong thời của Đức Phật. Thật ra, theo
truyền thuyết, Đức Phật từ bỏ thế gian khi Ngài thấy một kẻ hành khất lần đầu
tiên, và một ông già, một tử thi, và một sannyasin.
Những người ăn xin có mặt ở đó.
Đức Phật, thái tử
Siddartha, sắp tham dự vào một lễ hội dành cho giới trẻ, chàng phải khánh thành
nó. Từ chiếc kim xa của mình, chàng thấy một kẻ hành khất – lần đầu tiên, bởi
vì phụ vương chàng đã xoay xở suốt đời ông, sao cho Thái tử sẽ không bao giờ
thấy một kẻ hành khất, hay một người bệnh, hay một người chết. Bởi vì khi Ngài
đản sanh, những nhà chiêm tinh đã nói với vua cha: "Nếu thái tử thấy những
người này, ngay lập tức thái tử sẽ từ bỏ thế gian, cho nên, đừng cho phép thái
tử thấy họ." Do vậy, bất cứ nơi nào Thái tử thường đi tới, những kẻ hành
khất được di chuyển đi nơi khác. Những người già sẽ bị di chuyển, hay bị buộc
phải ở trong nhà họ, không được ra ngoài. Ngay trong khu vườn của Thái tử, không
chiếc lá chết nào được cho phép. Mọi lá chết đều được thu dọn trong đêm, do
vậy, vào buổi sáng khi Thái tử đi ra vườn, chàng chỉ có thể thấy sự trẻ trung,
những chiếc lá non, những bông hoa mơn mởn. Chàng chưa bao giờ thấy một bông
hoa héo tàn.
Khi chàng thấy một kẻ
hành khất lần đầu tiên… Và câu chuyện ngụ ngôn này thật đẹp; nó nói rằng, chư
thiên trở nên lo lắng; "Vua cha đang quá thành công. 29 năm đã trôi qua và
Thái tử có năng lực trở nên một trong những kẻ chứng ngộ nhất trên thế gian."
Chư thiên trở nên lo lắng: "Phụ vương chàng xoay xở quá thành công, đến
mức có thể chàng sẽ không bao giờ gặp một kẻ hành khất hay một người già; chàng
có thể bỏ lỡ." Do vậy, một vị thần hóa thành một kẻ hành khất, một
vị khác, một ông già, một vị khác, một người chết, và một vị khác,
một sannyasin.
Do vậy, trong thời
của Đức Phật, những người hành khất có mặt ở đó – nhưng họ không từ bỏ thế
gian. Họ không có gì để từ bỏ; họ mãn nguyện. Nhưng Thái tử Siddharta trở nên
bất mãn.
Xưa kia, khi Ấn Độ
giàu có, nhiều người quan tâm đến thiền định; thật vậy, tất cả mọi người đều
quan tâm đến thiền định. Chẳng sớm thì muộn, họ buộc phải bắt đầu nghĩ về mặt
trăng, về cái "bên kia", về cái bên trong. Bây giờ đất nước nghèo,
quá nghèo đến mức không có sự tương phản nào giữa cái bên trong và cái bên
ngoài. Cái bên trong nghèo, cái bên ngoài cũng nghèo. Cái bên trong và cái bên
ngoài ở trong sự hòa điệu hoàn hảo – cả hai đều nghèo! Đó là lý do tại sao bạn
thấy một loại mãn nguyện trên khuôn mặt người Ấn, đó không phải là sự mãn nguyện
thực thụ. Và do vậy, người ta đã trở nên quen với việc nghĩ rằng sự nghèo nàn
có cái gì tâm linh trong nó.
Sự nghèo nàn được thờ
phụng tại Ấn Độ. Đó là một trong những lý do tại sao tôi bị kết án một cách
liên tục, bởi vì tôi không ủng hộ bất cứ sự nghèo nàn nào. Sự nghèo nàn không
phải là tính tâm linh, sự nghèo nàn là nguyên nhân gây ra sự biến mất của tính
tâm linh.
Tôi muốn toàn thế
giới trở nên giàu có càng nhiều càng tốt. Người ta càng giàu có, họ càng trở
nên tâm linh. Họ sẽ phải trở nên tâm linh, họ sẽ không thể tránh nó. Và chỉ khi
đó sự mãn nguyện thực thụ mới có thể khởi lên.
Khi bạn có thể tạo ra
sự giàu có bên trong, thì sự hòa điệu lại xuất hiện – sự giàu có bên ngoài gặp
sự giàu có bên trong – rồi, có sự mãn nguyện thực thụ. Khi sự nghèo nàn bên
ngoài gặp sự nghèo nàn bên trong, thì có sự mãn nguyện giả dối. Sự hòa điệu là
khả dĩ trong hai cách này. Cái bên ngoài và cái bên trong hòa điệu, và người ta
cảm thấy mãn nguyện. Ấn Độ có vẻ mãn nguyện bởi vì có sự nghèo nàn ở hai phía
của hàng rào. Có sự hòa điệu hoàn hảo, cái bên trong hòa điệu với cái bên
ngoài; nhưng đây là sự mãn nguyện xấu xa, nó thực sự thiếu sự sống, thiếu sinh
khí. Đây là một loại mãn nguyện nhạt phèo, chán ngắt.
Phương Tây bị buộc
phải trở nên quan tâm đến thiền định, không có cách nào để tránh nó. Đó là lý
do tại sao Kytô giáo đang đánh mất ảnh hưởng của nó trên tâm trí phương Tây,
bởi vì Kytô giáo chưa phát triển khoa học thiền định trên bất cứ phương diện
nào. Nó vẫn còn là một tôn giáo rất tầm thường; Do Thái giáo cũng vậy.
Phương Tây nghèo nàn
khi những tôn giáo này được sinh ra, đó là lý do. Cho tới lúc đó, phương Tây đã
sống trong nghèo nàn. Khi phương Đông giàu có, thì phương Tây nghèo nàn. Do
Thái giáo, Kytô giáo, và Hồi giáo – tất cả ba tôn giáo phi Ấn Độ này, đều được
sinh ra trong sự nghèo nàn. Chúng không thể phát triển những kỹ thuật thiền
định, không có nhu cầu. Chúng vẫn còn là những tôn giáo của người nghèo.
Bây giờ phương Tây đã
trở nên giàu và có một chênh lệch, cách biệt.
Những tôn giáo phương
Tây đều được sinh ra trong sự nghèo khó; chúng không có gì để tặng cho những
người giàu. Đối với những người giàu, chúng nom có vẻ trẻ con, chúng không mang
lại thỏa mãn. Chúng không thể làm thỏa mãn. Những tôn giáo phương Đông được
sinh ra trong sự giàu có; đó là lý do tại sao tâm trí phương Tây đang trở nên
ngày càng quan tâm đến những tôn giáo phương Đông. Vâng, tôn giáo của Đức Phật
đang có ảnh hưởng lớn; Zen đang lan tràn như lửa cháy rừng. Tại sao?
Nó được sinh ra từ sự giàu có.






0 nhận xét:
Đăng nhận xét